image
Tin Tức Hội



PHÁP HỘI MẠN ĐÀ LA VIÊN DUNG 2013

CHƯƠNG TRÌNH PHÁP HỘI MẠN ĐÀ LA VIÊN DUNG 2013

Buổi lễ được tổ chức từ thứ Bảy 1 (9 giờ sáng đến 6 giờ chiều) và Chủ Nhật 2 tháng 6 (9 giờ sáng đến 8 giờ tối), năm 2013, tại trường:

Mc Lean High School, cafeteria room
1633 Davidson Rd 
McLean, VA 22101 

Thứ Bảy 1 tháng 6, 2013:
9AM - 6pm: Lạy Quán Âm Sám 

Chủ Nhật 2 tháng 6, 2013: 
9AM - 4PM: Giải thích và Hướng dẫn nghi thức Mạn Đà La
5pm - 8pm: Đại lễ Mạn Đà La 

XIN LƯU Ý

Ban Ân Cần sẽ cung cấp thức ăn trưa cho cả hai ngày và ăn tối nhẹ vào Chủ Nhật.

Lễ Sái Tịnh sẽ bắt đầu lúc 5pm ngày Chủ Nhật. Đại lễ Màn Đà La sẽ chấm dứt lúc 8pm.

Để cho buổi lễ thêm phần trang nghiêm, xin tất cả hãy mặc lễ phục hay áo tràng để nhập tràng vào Mạn Đà La. Xin nhắc nhở tất cả điện thoại máy ảnh, máy quay phim, giày dép, ví bóp xách, thức ăn, nước uống đều phải để bên ngoài hội trường khi vào lễ.

Xin điền đơn Cầu AnCầu Siêu tại đây và email về csseast@gmail.com

Trường McLean HS cách exit Rt 123/Rt 7 trên beltway I-495 khoảng chừng hơn 1 mile. Xin xem bản đồ đường đi tại đây. Xin đậu xe, vào cổng số 9 hay 10 cho tiện đường đi. Ban Ân Cần sẽ có mặt trước 8:00AM để chuẩn bị và ở lại hơn 8:00PM để dọn dẹp.

SƠ LƯỢC VỀ MANDALA: CHỦ NHẬT 2 THÁNG 6, NĂM 2013

Hội Từ Bi Phụng Sự Miền Đông đã nghe và chép lại các bài giảng của Thầy về Mạn Đà  La, và Mạn Đà La Viên Dung, đúc kết thành tài liệu sau đây:

Phân biệt mandalamandara: Mạn Đà La có phải là “hoa trời” không?

Mandala và mandara là hai chữ Phạn cùng được phiên âm là mạn đà la. Do đó chúng thường bị hiểu lầm là giống nhau, và cùng ý nghĩa. Nhưng thật ra, madarava, gọi là thiên hoa, tức là một loại hoa trên cõi trời.

  • Để diễn tả hoa trời, mandara có ý nghĩa là thiên diệu (kỳ diệu của cõi trời), duyệt ý (vui vẻ), thích ý (hợp với ý mình), tạp sắc (nhiều màu sắc), viên (tròn đầy), nhu nhuyến thanh (có âm thanh dịu dàng), khuých (đơn thanh), bạch (màu trắng).
  • Chữ mandara này thường được thấy trong chữ mạn đà lặc hoa, mạn na la hoa, mạn đà la phạn hoa, mạn đà la phàm hoa. Hoa này rất lớn thì gọi là ma ha mạn đà la hoa. Mạn đà la hoa là một trong 4 loại hoa trên trời, màu nó đỏ rực và cực đẹp, khiến người nhìn vào thì sinh vui vẻ.

Xuất xứ và định nghĩa: Quan điểm Mandala từ đâu mà có?

Trước khi Phật giáo ra đời, Ấn độ giáo đã có quan niệm về mạn đà la rồi; nhưng khi Phật giáo xử dụng mạn đà la thì quan niệm đã thay đổi rất nhiều. Đối với người Ấn giáo, thì chữ mandala có nghĩa là hình tròn (circle), và thường là những vòng đồng tâm, với những hình vuông trong đó.

Trong Ấn giáo, quan niệm mandala đã có trong bộ kinh Rig Veda (Phệ Đà). Một mandala xưa nhất của họ là mandala chữ Om hay còn gọi là Sri Yantra. Đây là một hình vẽ gồm 43 hình tam giác, tượng trưng cho sự rung động của vũ trụ chữ Om.


Trong Phật giáo, mandala được dịch là đàn, đàn tràng, luân viên cụ túc, phát sinh, tụ tập.

  • Đàn: Ở đây không phải là một hình vẽ như mandala chữ Om, mà tức là một platform vuông vức, thường thường có đặt định giới hạn rõ ràng ở bốn cạnh. Như giới đàn là một hình vuông vức; xưa kia giới đàn gồm bốn cạnh được căng dây, bốn góc có cắm cọc hoặc đặt các tảng đá làm chuẩn. Sau đó, chư tăng kiết giới, chính thức đặt định đây là chỗ truyền giới, không cho tất cả tà ma, ngoại đạo, quỷ thần tiến vào.
  • Đàn tràng: tức là bodhimanda, thường là chỗ để tác pháp, như cầu nguyện, tu hành, cung phụng, thiền định. Đàn tràng cũng như đàn, nhưng phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm rất nhiều vật trang nghiêm thanh tịnh; đàn tràng chính là chỗ để chư Phật bồ tát tụ hội, để chúng sinh tu tập, và tất cả tà ma đều không được phép vào đàn tràng.
  • Luân Viên Cụ TúcLuân diễn tả sự chuyển động, sự sống động. Viên là vòng tròn, là sự viên mãn, là chân lý tròn đầy. Luân viên nghĩa đen là những vòng tròn sống động, nghĩa bóng là sự vận hành hoàn toàn vô ngại và sống động của chân lý, của tâm Phật. Theo Đại Nhật Kinh Sớ cuốn 4, luân viên diễn tả hình ảnh xoay vần của chư Phật khắp mọi nơi xung quanh đức Đại Nhật Như Lai, hiệp trợ đức Đại Nhật cứu độ chúng sinh thâm nhập vào cửa Phổ Môn giải thoát; đây là hình ảnh sống động biến hóa vô cùng. Mạn đà la chính là một nơi mà có đầy đủ sự vận hành vô ngại và sống động của tâm Phật (và của chư Phật bồ tát). Vì đầy đủ nên gọi là cụ túc.
  • Phát sinh: Cũng trong Đại Nhật Kinh Sớ, mandala cũng có ý nghĩa là phát sinh, tức là khởi phát và trưởng dưỡng chủng tử Phật, để sinh ra quả Phật. Chữ Phạn manda còn có nghĩa là đề hồ, (là chất do tinh chế từ sữa mà ra), chất mà mùi vị ngon nhất, cao quý nhất; thường được ví như là sự giác ngộ và cảnh giới tối cao của Phật. Như vậy thì mandala là nơi phát sinh ra chỗ giác ngộ, chỗ cư trú của chư Phật.
  • Tụ tập: Là muốn nhấn mạnh tới mandala là một nơi mà chư Phật bồ tát sẽ tập hội, tiếp thông với người tu hành. Vì lý do này nên ta đã thấy rất nhiều mandala trong thời đại sau này có rất nhiều hình vẻ của chư Phật, bồ tát.

Theo giáo sư Adrian Snodorass: “Thật sự ra những hình vẽ không phải là mandala, mà đúng ra nó là công cụ hỗ trợ cho sự kết thành mandala ở trong tâm thức hành giả, gọi là mandala nội tại. Do vậy, những bức tranh vẽ ấy, có thể gọi là mandala ngoại tại, vừa là thể tài của pháp giới do sự tướng tạo ra, nhưng cũng vừa là tâm thức chúng sinh. Hai phạm trù của thánh và phàm hoàn toàn dung thông vô ngại qua bức tranh vẽ. Pháp giới hoàn toàn vận chuyển trong tâm hành giả, và tâm hành giả thì thông đạt tất cả bụi trần khắp pháp giới.”

Mandala có những tác dụng gì?

Giáo sư David Fontana cho rằng: bản chất đặc trưng của các hình ảnh trong mandala giúp ta tuần tự tiến sâu vào những tầng tâm thức thẳm sâu (tiềm thức và siêu ý thức), mà cứu cánh là giúp hành giả đạt tới Nhất Như, một trạng thái mà từ đó vạn sự vạn vật trong vũ trụ trỗi dậy. 
Tâm lý gia Carl Jung thì cho rằng mandala là một biểu tượng của “bản ngã vô thức‟ (unconscious self), mà tác dụng là giúp kẻ kiến tạo hoặc vẻ ra mandala tìm được sự mất cân bằng tâm lý và từ đó đạt tới sự hoàn thiện viên mãn cá tánh.

Theo quan điểm của Mật Tông, thì đức Phật lúc nào cũng ở trong trạng thái giác ngộ Bất Nhị. Sự biểu hiện của trạng thái đó ở trong cõi phàm phu nhị nguyên thì gồm có 3 chỗ:

  • Nơi thân thể, gọi là ấn (mudra)
  • Nơi lời nói, ngôn từ, gọi là chú, mật ngữ (mantra)
  • Nơi tâm tư, gọi là chủng tử tự (yantra)

Cả ba thứ, ấn, chú và chủng tử tự, đều thuộc về phần siêu ý thức, nên chúng ta không thể dùng ý thức để hiểu được. Nếu chúng có ý nghĩa thì ý nghĩa đó chỉ có thể cảm nhận trực tiếp bằng siêu ý thức chứ không bằng ý thức. Do vì không thể dùng ý thức để hiểu nên nhiều người nghĩ lầm rằng rằng chú, ấn là vô nghĩa.

Đối với người hành giả thì khi kiết ấn, tụng chú, quán tưởng chủng tử tự thì họ tái hiện khởi tâm thức giác ngộ của Phật. Chỗ để giúp họ tập trung để thành tựu tâm thức giác ngộ của Phật gọi là mandala. Do đó mandala là nơi mà hành giả (hoặc nhiều hành giả) tập trung tâm thức tới cực điểm.

Trong Đại Nhật Kinh, có đoạn như sau: “Mandala là nơi tâm thức của chư đại bồ tát an trụ. Nó cũng là nơi an trụ tâm thức của tất cả hành giả du già. Do biết như vậy, hành giả chứng ngộ toàn giác… Sự quán tưởng mandala trong tâm hành giả lành trị cơn bịnh mê muội. Nó sẽ lập tức lành trị sự mê muội trong tâm chúng sinh, và giải trừ mọi nghi nạn. Mandala không khác gì tâm thức, và tâm thức chẳng khác gì mandala. Vì sao vậy? Vì tâm thức và mandala là một. (Trích Đại Nhật Kinh, Taisho 18:41) Đây là một khẳng định sâu sắc nhất và mạnh mẽ nhất về ý nghĩa mandala vậy.

Mandala có những loại nào?

Theo Kinh Kim Cang Đỉnh, có 4 loại mandala chính trong Chân Ngôn Tông của Phật Giáo:

1. Maha mandala: Đại Mạn đà la, gồm những hình ảnh của chư tôn, Phật bồ tát,thánh hiền, đầy đủ với dung mạo trang nghiêm. Thí dụ như Thành Thân Hội trong mandala Kim Cang Giới.

2. Samaya mandala: Tam-Muội-Da Mạn đà la, gồm những khí trượng, bảo vật, dùng để biểu tượng thệ nguyện của chư Phật bồ tát. Thí dụ như đức Quán Âm dùng nhành dương liễu và tịnh bình, đức Địa Tạng dùng minh châu và tích trượng. Ngoài những pháp khi bảo vật như vậy, trên tay các ngài thường có kết ấn (mudra).

3. Dharma mandala: Pháp Mạn đà la, gồm những chủng tử tự hoặc là chân ngôn của chư Phật bồ tát viết ra (giống như chữ Phạn). Đôi khi ta còn thấy kinh văn hoặc văn nghĩa mô tả cảnh giới trong thiền định (tam muội) hoặc diễn tả pháp thân, hoặc pháp giới.

4. Karma mandala: Yết-Ma Mạn đà la, gồm tượng đúc tạc chư tôn, Phật bồ tát, diễn tả hành trạng, sự nghiệp của các vị đó.

Bốn thứ mạn đà la trên đều là hình vẽ hoặc tượng đúc.

Mạn đà la Viên Dung là gì?

Mạn Đà La Viên Dung được thiết lập do Thầy Hằng Trường, dựa theo tư tưởng kinh Bát Nhã và kinh Hoa Nghiêm.

Triết lý nền tảng: Kinh Bát Nhã

Theo kinh Bát Nhã , nhất là Tâm Kinh Bát Nhã , thì “Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị”.

Nghĩa là: thân xác này là bản thể Chân Không, và Chân Không cũng chính thật là sắc thân này. Cảm xúc, tư tưởng, thói quen, tâm thức, đều cũng như vậy, tức chúng đều là Chân Không. 
Đây là triết lý căn bản nền tảng của lý Bát Nhã.

Triết lý nền tảng: Kinh Hoa Nghiêm 

Theo kinh Hoa Nghiêm, thế giới sai thù gọi là Sự; thế giới của chân lý gọi là Lý. Thế giới của sắc, thọ, tưởng, hành, thức gọi là Sự. Vũ trụ của Chân Lý, Phật tánh, Chân Không thì gọi là Lý. Hai thế giới, hai vũ trụ này thì không hề dị biệt, không hề sai khác.

Sở dĩ ta thấy sai khác vì ta đứng trong phạm trù của thế giới sai biệt, với cái nhìn chia chẻ, với tâm lý vui buồn, với quan điểm đúng sai…do đó chúng ta không có khả năng, không sao thấy được đặc tính “Bất Nhị‟ (không phải hai thứ tương đối). Nhưng bản tánh Sự và Lý thì thật sự là Bất Nhị. Vì bản tánh bất nhị của Sự và Lý nên ta gọi mandala biểu tượng đặc tính này là mandala Viên Dung.

Cấu trúc của mandala Viên Dung

Cấu trúc của Mandala Viên Dung được dựa vào hai triết lý của kinh Bát Nhã và Kinh Hoa Nghiêm như trên. 

Khi vào Mandala Viên Dung, chúng ta sẽ được xếp hàng ngồi theo 5 hình vuông đồng tâm.

  1. Biểu tượng của ngũ uẩn và ngũ đại: 5 hình vuông dùng để diễn tả vũ trụ của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), tức là 5 yếu tố cấu tạo thân tâm ta. Ngoài ra, 5 hình vuông cũng dùng để diễn tả vũ trụ của ngũ đại (địa, thủy, hỏa, phong, không), tức là 5 yếu tố cấu tạo thế giới bên ngoài. Ngũ uẩn thì chỉ vào thân tâm ta, còn ngũ đại thì chỉ vào thế giới bên ngoài. Do đó hai hệ thống này tương ưng với nhau, một cái là phạm trù vi tiểu (micro) một cái thì phạm trù cự đại (macro). Năm hình vuông này ta đặt tên là 5 hình vuông Ngũ Uẩn hoặc 5 tầng Ngũ Đại.

Ngũ ấm 
Khi vào trong mandala, mọi người đều ở trong 5 hình vuông tượng trưng cho ngũ ấm để nhấn mạnh ra chúng ta phải dựa vào ngũ ấm mà tu, tức là dựa vào thân xác, cảm xúc, tư duy, thói quen và sự nhận biết. Tu trì nghĩa là làm sao vượt thoát khỏi sự kiềm tỏa của ngũ ấm. 

Ngũ đại 
Phật bồ tát sống với Chân Tâm, nên vũ trụ của các ngài là vũ trụ thanh tịnh, gọi là Pháp Giới. 
Phàm phu sống với ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), nên vũ trụ của chúng ta là vũ trụ nhị nguyên, gọi là vũ trụ Ngũ Đại. 

Mandala là nơi đặc biệt vì đó là chỗ mà chư Phật bồ tát có nguyện sẽ hiện thân, đem vũ trụ của các ngài (Pháp Giới) hiển bày trong thế giới của Ngũ Đại mà chúng ta ở. 

Do vậy ngay trong mandala, những kẻ mắt phàm xác tục có thể kinh nghiệm sự mầu nhiệm vô biên của Pháp Giới, vũ trụ của Chân Tâm. Trong mandala, 5 viền vuông ngũ ấm cũng là 5 viền vuông Ngũ Đại. Đặc biệt, trong mandala, ta còn dùng những phẩm vật cúng dường để đại biểu cho Ngũ Đại.

2. Biểu tượng của Phật tánh: Để diễn tả vũ trụ của chân lý, Phật tánh Bất Nhị, Chân Không, thông thường ta dùng hình tròn. Hình tròn này ta đặt tên là vòng tròn Pháp Giới Bất Nhị.

Chân Tâm Bất Nhị 
Trung tâm của mandala là vòng tròn tượng trưng cho Chân Tâm Bất Nhị, vòng tròn Giải Thoát, vòng tròn Bát Nhã. Đây là chỗ để mọi người chuyên chú tập trung hướng tâm vào.

3. Biểu tượng của trí huệ: Nếu muốn diễn đạt trí huệ giác ngộ, một thứ tuệ giác có khả năng trực nhận Chân Không, thì ta cũng dùng một hình tròn để đại biểu. Vòng tròn này ta đặt tên là vòng tròn Tuệ Giác Giải Thoát.


Hai thứ hình này, tròn và vuông được xử dụng rất phổ biến trong tất cả mandala Phật Giáo.


Làm sao để biểu hiện rằng ‘ngũ uẩn là Chân Không’ trong mandala? 
Về hình dạng của mandala thì “ngũ uẩn là Chân Không‟ là hình 5 hình vuông Ngũ Uẩn nằm trong vòng tròn Pháp Giới Bất Nhị. 

Để biểu hiện trí huệ giác ngộ hiện hữu trong vòng Ngũ Uẩn, thì ta đặt vòng tròn Tuệ Giác Giải Thoát vào trong 5 hình vuông Ngũ Uẩn. 

Trước hết ta phải có những vật thể đại biểu cho ngũ uẩn. Thí dụ:

  • Những thức ăn đã nấu, đại biểu cho sắc uẩn, cũng là đại biểu cho Địa Đại.
  • Những thứ nước uống, đại biểu cho thọ uẩn, cũng là đại biểu cho Thuỷ Đại.
  • Những cây nến, đèn cầy, đại biểu cho tưởng uẩn, cũng là Hỏa Đại.
  • Những lá trà, hoa, quả, đại biểu cho hành uẩn, cũng là Phong Đại.
  • Những thứ hương đốt, đại biểu cho thức uẩn, cũng là Không Đại.

Tất cả những vật thể này đều sắp thứ tự theo năm hình vuông Ngũ Đại. 
Để đại biểu cho triết lý ‘ngũ uẩn là không’, ta di chuyển những vật thể ở trong 5 hình vuông ra hình tròn Pháp Giới.

Làm sao để biểu hiện rằng ‘Chân Không tức là ngũ uẩn’ trong mandala? 
Trong vòng tròn Pháp Giới, ta sẽ đặt những thứ hương không màu sắc, không có khói, nhưng có mùi thơm. Hương này tức là đại biểu cho Chân Không, cho Phật tánh. Sự lan tỏa của mùi hương thơm khắp nơi trong mandala thì đại biểu cho sự hiện hữu của Chân Không khắp vũ trụ nhị nguyên của Ngũ Đại.

 Pháp Giới

Vòng tròn ngoài cùng là vòng tượng trưng cho Pháp Giới (dharmadhatu), cũng là vũ trụ của Chân Tâm, vũ trụ của chư đại bồ tát, chư Phật thị hiện. Đây là vũ trụ mà biểu tượng và hiện thực, chân lý và hành động, vạn sự vạn vật đều dung thông vô ngại mà không hề hỗn loạn. 
Khi ta giác ngộ Chân Tâm Bất Nhị, biết sống trong Chân Tâm, không sống trong vọng tưởng, tình cảm, và không lấy bản ngã là trung tâm hiện hữu thì vũ trụ mà ta sống sẽ là Pháp Giới.

 

Trong vòng tròn Tuệ Giác Giải Thoát, ta sẽ an trí một tượng Phật A Di Đà (Amitabha) trong suốt, ngồi kiết ấn Di Đà, để đại biểu cho trí tuệ giải thoát tối cao, tối cứu cánh. Ngài chính là đại biểu cho Vô Lượng Quang Minh, tự tại giải thoát.

Nhìn thấu Chân Tâm 
Vì bị ngũ ấm trói buộc và bị Ngũ Đại bao bọc nên ta không sao cảm nhận được Chân Tâm và Pháp Giới.

Vì thế trong mandala, phần đầu là tu hành nhìn xuyên ngũ ấm, đạt tới nhận tri Chân Tâm. Phần kế tiếp là hóa giải sự kiềm toả của Ngũ Đại để thể nhập vào Pháp Giới.

Những câu chú và ấn gì xử dụng trong khi hành trì ở mandala Viên Dung?

Ba câu chú quan trọng sẽ được tụng trì trong quá trình tác pháp ở mandala là:

1. Chú Thất Phật Diệt Tội: Đây là chú giúp cho bao nhiêu tội nghiệp đều được tiêu trừ. Nhờ tiêu trừ nên mới dễ siêu thoát. Chú này có thể đọc bằng âm Hán hoặc âm Việt, như sau:

Âm Hán: 
Li Pe Li Pe Di 
Chiou He Chiou He Di 
To La Ni Di 
Ni He La Di 
Pi Li Ni Di 
Mo He Chye Di 
Jen Lin Chian Di 
So Pe He

Âm Việt: 
Ly Bà Ly Bà Đế 
Cầu Ha Cầu Ha Đế 
Đà Ra Ni Đế 
Ni Ha Ra Đế 
Tỳ Lê Nễ Đế 
Ma Ha Già Đế 
Chơn Lăng Càn Đế 
Ta Bà Ha

2. Chú Vãng Sinh: Đây là chú giúp cho vong linh được thăng hóa từ chỗ sinh tử luân hồi, từ chỗ bị kẹt trong vòng Ngũ Uẩn, Ngũ Đại, tới chỗ giác ngộ, giải thoát. Chú này có thể đọc bằng âm Hán hoặc âm Việt, như sau:

Âm Hán: 
Na Mwo E Mi Dwo Pe Ye 
Do Two Chye Dwo Ye 
Do Di Ye Two 
E Mi Li Du Pe Pi 
E Mi Li Dwo Syi Dan Pe Pi 
E Mi Li Dwo Pi Jya Lan Di 
E Mi LI Dwo Pi Chya Lan Dwo 
Chye Mi Li 
Chye Chye No 
Jr Dwo Jya Li 
So Pe He 

Âm Việt: 
Nam mô A di đa bà dạ 
Đa tha già đa dạ 
Đa điệt dạ tha 
A di rị đô bà tỳ 
A di rị đa, tất đam bà tỳ 
A di rị đa, tỳ ca lan đế 
A di rị đa, tỳ ca lan đa 
Già di nị, già già na 
Chỉ đa ca lệ 
Ta bà ha

3. Lăng Nghiêm Tâm Chú: Đây là chú khẳng định thể tánh Bất Nhị, bản tánh tự tại giải thoát, trí huệ siêu việt của chư Phật. Đọc chú này ra để khẳng định sự giải thoát là chân thật bất hư, là cảnh giới tối cao, tối thù thắng. Đồng thời  khẳng định sự viên dung của chân lý và sự tướng, của sinh tử và niết bàn. Mọi người sẽ trì chú này vào lúc cuối cùng của mandala. Chú này có thể đọc bằng âm Hán hoặc âm Việt, như sau:

Âm Hán: 
Nan 
E Na Li 
Pi She Ti 
Pi La 
Ba She La 
Tuo Li 
Pan Tuo Pan Tuo Ni 
Ba She La Bang Ni Pan
Hu Xin Du Lu Yung Pan 
So Po He

Âm Việt: 
Án 
A na Lệ 
Tỳ xá đề 
Bệ ra bạt xà ra đà rị 
Bàn đà bàn đà nễ 
Bạt xà ra bán ni phấn 
Hổ hồng đô lô ung phấn 
Ta bà ha.

Lễ Sái Tịnh MANDALA là gì ?

Đại lễ Mandala luôn luôn bắt đầu bằng lễ Sái Tịnh, và thường do qúi Thầy, chư tăng ni,  các vị Xuất Gia Đoản Kỳ và các vị thọ Bồ Tát Giới cử hành. Lễ Sái Tịnh là gì?

Sái tịnh nghĩa là làm cho thanh tịnh, khiến chư Phật bồ tát thánh iền có thể xuất hiện. Làm sao khiến mandala thanh tịnh ?

Dùng nước cam lồ đại từ đại bi tưới khắp mandala.

Làm sao để có nước cam lồ?

Đại chúng cùng nhau tụng chú Đại Bi vào trong nước để đem tâm thức từ bi thấm thấu vào từng giọt nước .

Một khi mandala thanh tịnh, chư thánh hiền lập tức hiển hiện.

Cũng vậy, một khi lòng ta thanh tịnh, không có tư dục, ích kỷ phiền não, lập tức quang minh trí huệ sẽ hiện khởi. Muốn cõi lòng thanh tịnh, ta hãy rưới vào lòng nước từ bi, nước tình thương bao la, nước tha thứ bao dung.

Khi sái tịnh mandala, ta hãy nhớ đồng thời làm thanh tịnh ngũ ấm, tức là thân thể (sắc), cảm tình cảm xúc (thọ), tư tưởng (tưởng), thói quen tập khí (hành) và sự nhận tri (thức). 
Làm thanh tịnh thân thể (sắc ấm) tức là hãy giữ ngũ giới: ngừng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, lừa dối, và nghiện ngập. Tích cực phục vụ, sẵn sàng ra sức khi ai cần giúp.

Làm thanh tịnh cảm tình cảm xúc (thọ ấm) tức là hãy giữ lòng thương bao la không chiếm hữu, lòng tha thứ, cảm thông, lòng vị tha quên mình.

Làm thanh tịnh tư duy (tưởng ấm) là mở rộng vũ trụ quan, tiếp thu cái nhìn, ý kiến mới, suy tư theo chân lý, thấu rõ nhân quả; không để tư duy bị bản ngã khống chế và điều động; sáng tạo để đem cái đẹp và chân lý tới cho mọi người.

Làm thanh tịnh thói quen tập khí (hành ấm) là thay đổi lối sống bám chấp vào vật dục ra lối sống thanh tịnh nhẹ nhàng, lối sống phục vụ, lối sống hy sinh, lối sống tĩnh lặng an bình không thù không hận, không lẫy không dữ. Sống với hơi thở nhẹ, vi tế, siêu thoát mà dồi dào tình thương, thâm áo mà chẳng vướng bận, chấp, kẹt.

Làm thanh tịnh sự nhận tri (thức ấm) là hiển bày sự giác tri Chân Tánh, hiển bày sự giác tri về điểm mù và những bóng đen do bản ngã tạo ra. Sống với tâm thức trong suốt; dù ngày hay đêm, dù ngủ hay thức, lúc nào tâm cũng trong sáng cực kỳ, thấu suốt rõ ràng, mà không hề một gợn sóng, một hạt bụi.

Sau khi sái tịnh xong, mandala hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn trang nghiêm, cũng là lúc chư Phật giáng lâm, ngự trị phóng quang.

Chính nơi đây đức Phật A Di Đà, là đức Vô Lượng Quang Minh, Vô Lượng Thọ Mạng, Vô Lượng Phước Đức, cùng hải hội chư bồ tát hiện thân, để thành tựu pháp mandala Viên Dung này.

Vì Mạn Đà La là đàn tràng thanh tịnh nơi chư Phật tụ hội, cho nên khi đại chúng nhập tràn, tuyệt đối giữ yên lặng, không được mang điện thoại, máy ảnh, quay phim, hay bóp xách vào trong đàn tràng.

Triệu thỉnh Long Thiên là sao? Tại sao lại gióng trống?  

Theo kinh Hoa Nghiêm, mỗi khi chư Phật giảng pháp trên cung trời, thì trống trời tự động gióng lên để triệu tập chư thiên cùng với chư vị long, a tu la, khẩn na la, càn thát bà, ma hầu la già, và chư thần thuộc bát bộ.

Tại sao gióng trống? Vì trống thì trống rỗng, đại biểu cho sự rỗng rang của Chân Tâm. Gióng trống để báo cho chúng sinh biết Phật sắp nói pháp tánh Không, chân lý về bản thể rỗng rang.

Chư thiên long bát bộ là hình tượng đại biểu cho gì?

Họ đại biểu cho những tánh tình phàm phu của chúng ta: tánh tình còn tranh (a tu la), còn  tham (ma hầu la già), còn sợ (càn thát bà), còn khổ (long), còn chấp (khẩn na la). Nghĩa đen là gióng trống để họ trở về nghe pháp. Nghĩa bóng là gióng trống ‘tánh Không’ để phiền não trở về tiêu dung trong Chân Tâm Bất Nhị.

Trống phát ra âm thanh vang dội. Rỗng rang là bản thể, còn âm thanh là tướng trạng. Vạn sự cũng như âm thanh, nhưng bản chất vạn sự thì trống rỗng.

Khi trống gióng lên, ta hãy quan sát bản chất của vạn sự là rỗng rang. Rằng sự chấp trước vào vật dục, vào giá trị vật chất, thì chẳng khác như sự nắm bắt âm thanh vậy. Như âm thanh tới rồi đi, làm sao nắm bắt được? Bất khả đắc!

Ý nghiã của phẩm vật cúng dường Mandala

Cúng dường trong mandala là một phần tu trì quan trọng mà mục đích là khiến Ngũ Đại hội nhập vào Pháp Giới.

Nếu sự giác tri Chân Tâm đòi hỏi sự vận dụng của tâm trí (để xuyên thấu ngũ ấm): cần chuyên chú, quán tưởng, trì tụng, nhận tri; thì sự hội nhập Pháp Giới đòi hỏi sự vượt thoát khỏi vũ trụ vật chất (Ngũ Đại). Do đó trong mandala Viên Dung, ta dùng vật phẩm cúng dường để đại biểu cho Ngũ Đại; kế đó chuyển di các phẩm vật ấy ra khỏi phạm trù hình vuông, tiến vào hình tròn, để đại biểu cho sự thoát ly Ngũ Đại, hội nhập vào Phảp Giới.

- Địa Đại: Khăn vàng, cúng thức ăn 
- Thủy Đại: Khăn xanh, cúng nước 
- Hỏa Đại: Khăn đỏ, cúng đèn cầy 
- Phong Đại: Khăn lục, cúng lá trà, bông hoa 
- Không Đại: Khăn trắng, cúng hương

Khi cúng dường, mỗi người dâng hiến lên chư Phật một phẩm vật thuộc Địa, Thủy, Hoả, Phong, Không. Sau đó các vật cúng dường sẽ được đưa vào vòng tròng Pháp Giới, là vòng nằm bên ngoài cùng mandala. Sự cúng dường này tượng trưng cho sự tu hành thoát ly Ngũ Đại, hội nhập vào Pháp Giới; hay nói cách khác: hội nhập Ngũ Đại vào Pháp Giới.

Cúng dường là hạnh đứng đầu của mười phép khai mở trí huệ siêu việt (ba la mật) chứng ngộ Chân Tâm, thâm nhập Pháp Giới.

Ta hãy nhẹ nhàng, thả tay không nắm giữ tất cả những gì thuộc về ‘cái của tôí thì pháp cúng dường tự nhiên thành tựu.

 

Chủ thể

Vũ trụ

Phàm phu

Ngũ ấm

Ngũ Đại

Phật bồ tát

Chân Tâm Bất Nhị

Pháp Giới

Nghi thức MẠN ĐÀ LA Viên Dung

Khi chúng ta nhập đàn tràng Mạn Đà La Viên Dung, Thầy sẽ hướng dẫn chúng ta thực tập từng bước như sau:

Lắng nghe giáo pháp 
Lắng nghe giáo hối, cùng nhau hướng tâm vào đức Phật A Di Đà, nơi vòng trong Chân Tâm. Đức A Di Đà là đại biểu của trí huệ quang minh vô lượng vô biên, cũng tức là quang minh từ Chân Tâm Bất Nhị.

Tụng chú 
Sau đó hành giả, đại chúng, cùng nhau đọc chú Lăng Nghiêm Tâm Chú và chú Triển Khai Tự Tánh, là hai thần chú làm hiện xuất Chân Tâm. Đồng thời, đại chúng quán tưởng quang minh lan tỏa từ đức Di Đà tới tâm mình, để Chân Tâm mình được khai mở. 
Như thế, sự tu hành tóm lại gồm những yếu tố chủ chốt như sau: thư giãn tĩnh lặng, quán tưởng quanh minh, tụng chú hiển thị Chân Tâm.

Trường qùy 
Trong mandala ta còn những sự tu trì như: đứng tán thán, qùy sám hối, qùy lễ lạy, qùy cúng dường (đều gọi là trường qùy, nghĩa là qùy cả hai đầu gối). Bất cứ pháp môn nào cũng là phương tiện để thể hiện Chân Tâm, đồng thời hiển bày lòng thành, lòng chuyên nhất, lòng dâng hiến toàn diện.

Quán Tưởng 
Im lặng quán tưởng quang minh từ tâm đức Phật A Di Đà phóng tới tâm ta là một khâu quan trọng bậc nhất trong sự tu trì mandala. 
Quán tưởng tuy là còn sử dụng vọng tâm, nhưng sử dụng vọng tâm để làm nhịp cầu chiêu cảm sự hiện khởi của Chân Tâm, của trí huệ quang minh. Nhất là với tha lực của đức Phật A Di Đà, sự quán tưởng sẽ giúp nhanh chóng khởi phát quang minh tự tánh trong mỗi người chuyên tâm tu trì trong mandala.

Thiền tọa 
Im lặng là đất thánh, giúp mọi gốc lành trỗi dậy. 
Tĩnh lặng là cõi thiêng, khiến lòng an bình khai mở. 
Vắng lặng là trời trong, nơi mây mù phiền não tan biến tiêu dung.

Lễ bái 
Trong một cái lạy, hiển lộ vô vàn tình thương. 
“Ai có thể đếm được số hạt mưa rơi trên cõi trần gian lúc mùa lũ? Không thể đếm được. Vô số. Cũng vậy, tình thương của chư bồ tát cũng như những hạt mưa ấy. Từng hành động hy sinh, từng lời nói dịu dàng, từng ý tưởng thương yêu, một khi hợp lại thì tạo ra thác lũ tình thương, vô lượng vô biên. Chính vì tình thương ấy chúng con phát tâm tu trì.”

Phục lạy 
Lễ lạy là một ngôn ngữ của thân thể. Khi ta nằm phủ phục, gập chân, rút người lại như hình một thai nhi, thì ta (ngôn ngữ của thân thể) nói lên sự trở về với trạng thái khi ở trong bào thai, là lúc ta chưa tạo nghiệp. Lạy xong, đứng thẳng lên, vươn lên để trở thành độc lập, ta nối liền thiên địa. Do vậy lễ lạy là tái tạo vận mạng, tiếp thông thiên địa.

Trì chú 
Trì chú Lăng Nghiêm và chú Triển Khai Tự Tánh (hoặc còn gọi là chú Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng, Căn Bản Đắc Sinh Tịnh Độ Đà La Ni) là phần quan trọng nhất hiển hiện Chân Tâm. Cả hai câu chú đều gói ghém trong nó tất cả cảnh giới trang nghiêm, công đức, quang minh, thần thông và sự tự tại của chư Phật.

Buông xả 
Đối với những cô bác anh chị tham gia huấn luyện cho việc tụng trì, thì bên sau lời trì chú là cả một quá trình chuẩn bị thâm sâu: buông xả vạn sự để tâm chuyên vào lời tụng; buông xả tâm ý hướng ngoại để nội quang hiển bày; buông xả chấp nắm để chỉ tồn tại tâm Phật trong lời chú tuôn trào.

Kết luận

Mandala là một đàn tràng mà hành giả dùng để thăng hóa tâm thức.

Sự thực hành của mandala Viên Dung đòi hỏi sự thành tâm, nghiêm túc, và tình thương của những người thân nhân tham dự lễ trì tụng. Do vậy, không những các hành giả phải tắm gội sạch sẽ, áo tràng tươm tất, lễ vật cúng dường trang nghiêm, mà tinh thần chuyên chú, lòng thương lan rộng. Khi được như vậy, thêm với sự gia trì của những thần chú bất khả tư nghì, mandala sẽ khởi tác năng lượng vô hạn cứu độ chúng sinh. Khi đó chư Phật bồ tát cũng phóng quang hiện thân để tiếp dẫn.


image


SƠ LƯỢC VỀ QUÁN ÂM SÁM: THỨ BẢY 1 THÁNG 6, NĂM 2013

Thầy Hằng Trường giải thích như thế nào về Quán Âm Sám?

Sám là bài văn của chúng sinh viết ra để dâng lên cho đức Phật, đức Bồ Tát để bày tỏ hối lỗi. Ngài Quán Âm là vị Bồ Tát hiện thân cho lòng Đại Từ Đại Bi, giúp chúng sanh thoát khổ.

Để tìm hiểu thêm về Quán Âm Sám, xin nghe bài giảng (mp3) này của Thầy Hằng Trường tại Houston vào tháng 8, 2010 vừa qua. Trong buổi lễ, Thầy Hằng Trường sẽ trả lời đầy đủ các câu hỏi và thắc mắc của các bác và các anh chị (nhất là về vấn đề Nghiệp Quả).

Quán Âm Sám và Lương Hoàng Sám (đã được tổ chức năm 2008 và 2009 tại Virginia) do Thầy Hằng Trường hướng dẫn khác nhau như thế nào?

Sám là bài văn của chúng sinh viết ra để dâng lên cho đức Phật, đức Bồ Tát để bày tỏ hối lỗi. Về mặt nội dung, cả hai bài Sám văn đều do Thầy Hằng Trường biên soạn.

Bản soạn Lương Hoàng Sám (đã được tổ chức năm 2008 và 2009 tại Virginia) dựa theo căn bản của bài sám văn tiếng Hoa do Hòa Thượng Chí Công viết ra từ hơn ngàn năm xưa. Theo truyền thuyết, vào thế kỷ thứ Sáu bên Trung Quốc, sau khi bà Hy Thị, hoàng hậu vợ vua Lương Võ Đế (463-549) qua đời, nhà vua nằm mơ thấy bà hiện về hoàng cung giải thích cho Hoàng đế biết là vì bà có tánh dữ dằn và ghen tuông nên bị tái sanh thành con mãng xà. Do đó Hoàng đế thỉnh cầu Hòa thượng Chí Công, một vị cao tăng bậc nhất thời đó, cùng hơn 100 vị đại tăng thời đó, làm lễ sám để cứu bà. Lương Hoàng Sám, cũng gọi là Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp vì bài văn lễ sám vĩ đại do Hòa thượng Chí Công viết ra, gồm mười quyển. Hoàng đế sau đó đã vì bà mà thiết lập trai đàn tổ chức lễ sám hối.

Bản soạn Quán Âm Sám thì do Thầy Hằng Trường ngồi thiền mà viết ra, dựa theo tư tưởng trong kinh Hoa Nghiêm, và dựa nền tảng theo 10 hạnh nguyện của Đức Quán Âm Bồ Tát. Bản văn Quán Âm sám lời lẽ nhẹ nhàng, trong sáng, dễ thắm vào lòng người. Bài sám văn - kể cả lễ lạy - tương đối ngắn (2 tiếng rưỡi) dễ cho người tự thực tập ở nhà. Lạy Quán Âm Sám không những là một cách Sám Hối, mà còn là một phương pháp chuyển hóa nghiệp và phát triễn lòng từ bi.

Nói rộng ra, Sám văn Quán Âm giúp chúng ta nhìn lại các tội phước, quả báo qua bao nhiêu kiếp người, và dựa vào oai lực độ trì, gia hộ của Đức Quán Âm mà tu tập, hầu độ thoát cho chính mình, cho người thân cũng như tất cả chúng sinh đã quá vãng.

Tuy nhiên, về mặt hình thức thì cả hai buổi lễ đều có phần quỳ tụng sám (eg. đọc lời sám hối) và phần lễ lạy và hát xướng. Cho nên hình thức thì khá giống nhau.

Theo cái nhìn hiện đại, cả hai phép Sám đều là một cách thực tập đặc biệt để nhận ra và suy nghiệm những điểm mù; những tập tục thói quen xấu mà ta không nhận biết được; những mối quan hệ, những kết oán giữa những người thương thân trong gia đình và mối quan hệ kết oán xảy ra từ đâu để cởi gút ra.

Sám Hối là gì?

Sám là ăn năn các việc bất thiện đã làm, xin hứa sẽ chừa bỏ, không dám tái phạm. Hối là hối cải. Những điều bất thiện chưa làm, sau này xin thề nguyện không bao giờ làm nữa. Bao nhiêu điều thiện đều xin làm hết.

Lễ sám hối là sự tụng giới, bố tát trong tăng đoàn. Hay là sự tự nhận lỗi trước vị sư học đạo. Nhờ sự nhận lỗi trước một tập thể sẽ giúp chúng ta cảnh tỉnh và thay đổi cuộc đời một cách tích cực dẫn đến thay đổi nghiệp.

Ý niệm tha thứ là chìa khóa quan trọng nhất của sự giải thoát, và ngược lại sự giải thoát cũng chính là sự tha thứ.

Chúng sinh biết lỗi lầm là do tâm tạo, cho nên cũng phải do tâm ăn năn sám hối. Bài văn sám hối mà người Phật tử thường đọc nhất mỗi khi tác pháp sám hối:

Xưa nay đã tạo bao ác nghiệp,
Đều bởi vô thỉ tham sân si
Từ thân miệng ý mà sanh ra
Tất cả, nay con xin sám hối.

Làm thế nào để chuyển nghiệp?

Muốn chuyển thân nghiệp trước hết phải chuyển ý nghiệp bằng cách thành tâm sám hối tất cả lỗi lầm mình đã lỡ tạo trong quá khứ, và tạo công đức lành để đền bù lại những tội lỗi đó. Sám Hối để sám hối ý nghiệp của mình, làm cho hết lỗi cũ và không gây lỗi mới. Sự giữ tâm nguyện không gây lỗi mới, là điều kiện để lỗi cũ được sạch. Cùng lúc phải biết sợ hãi quả báo, hổ thẹn tội lỗi đã gây ra trong quá khứ. Và tạo công đức lành bằng cách bố thí, cúng dường, giúp đỡ người nghèo khổ, tàn tật.

Nếu sám hối đúng đắn, tội lỗi có được diệt sạch không?

Tội lỗi là do những mối tương quan sinh ra thì cũng do những mối tương quan mà tiêu diệt. Vậy duyên đầu tiên diệt tội là sám hối cho nên sám hối là xác tín tội lỗi sẽ bị quả báo, nhưng cùng lúc cũng xác tín có thể diệt được.

Lạy dùm người khác có được không?

Khi lạy dùm người khác, hãy để hết tâm trí sám hối cùng tình thương để người đó cảm thấu. Lạy Sám Hối sẽ giúp cho người đã chết được vãng sinh. Giúp cho người bệnh được giải nghiệp. Nếu muốn đổi đời, đổi nghiệp cá nhân người đó phải lạy Sám Hối.

Kết quả của việc lạy Sám Hối

- Làm phát triển tánh thành-thật.
- Trau-dồi đức tánh cương-quyết trong sự diệt trừ tánh xấu.
- Dứt được tội sanh phước.
- Mau thẳng tiến đến chỗ giải-thoát an-vui.

Trong Phật Giáo, ngoài Sám Hối còn có những hình thức sám hối tương tự không?

Trong nghi lễ Phật Giáo, có nhiều nghi lễ sám hối rất phổ thông như là Lương Hoàng Sám, Thủy Sám (từ truyền thuyết thiền sư Ngộ Đạt), Đại Bi Sám, Lục Căn Sám Văn, Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi, hay là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi do vua Trần Thái Tông biên soạn, và kể là việc trì tụng một số kinh như là kinh Dược Sư, kinh Phổ Môn hay là Địa Tạng, vv...

Các vị tổ sư đã chọn lọc một số phương pháp sám hối trên cả hai phương diện sự và lý.

Về sự sám hối thì có:

- Tác pháp sám hối: Lập đàn thỉnh chư Tăng chứng minh, người sám hối trình bày lỗi lầm của mình thành khẩn ăn năn, sám hối không tái phạm nữa.
- Thủ tướng sám hối: Người sám hối đến trước bàn thờ Phật và Bồ Tát thành tâm lễ bái từ 1 ngày, 7 ngày cho đến 49 ngày, khi nào thấy được tướng hảo của Phật và Bồ tát hoặc hoa sen thì mới thôi.
- Hồng danh sám hối: Đây là pháp sám hối do Bất Động pháp sư đời Tống biên sọan lấy từ 53 danh hiệu Phật trong Kinh Ngũ Thập Tam Phật và rút 35 danh hiệu trong kinh Quán Dược vương, Dược Thượng. Đây là nghi thức sám hối phổ thông nhất được các Chùa Việt Nam thường dùng trong những ngày Sám hối.

Về lý sám hối thì có:

- Vô sanh sám hối: lý sám hối dành cho những người có căn cơ cao, cho nên ở đây chúng ta chỉ biết qua một pháp nầy với hai cách quán:
- Quán tâm vô sanh: Đây là lý được rút từ Kinh Kim Cang: "Tâm qúa khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được và tâm vị lai cũng không thể được". Dùng pháp quán để thấy rõ : "Tội từ tâm sanh cũng từ tâm mà diệt".
- Quán pháp vô sanh: Quán sát thật tướng không sanh diệt "ở thánh không tăng ở phàm không giảm"; đây chỉ cho chơn tâm, Phật tri kiến, Pháp thân ...Vì khi nhận được chơn tâm rồi thì các tướng sanh diệt không còn.

TỔ CHỨC PHÁP HỘI

Nghi thức lễ Quán Âm Sám

Chương trình Quán Âm Sám làm theo nghi thức như đã thực hiện nhiều lần ở chùa Hoa Nghiêm, hoặc như đại lễ Lương Hoàng Sám (tổ chức năm 2009), và sẽ giản tiện hóa phần cúng dường phẩm vật.

Trong buổi lễ, Thầy HT có giảng Pháp hay không? Hay là chỉ có lễ lạy thôi?

Chương trình Quán Âm Sám có lễ lạy, có thuyết pháp, có trả lời câu hỏi, có lễ Quy Y và có nhiều sự thực tập khác. Tất cả đều nằm trong chủ đề Nghiệp và Sám Hối. Các buổi thuyết giảng sẽ tùy duyên mà xen kẽ với nghi lễ và không có chương trình giờ giấc nhất định.

Chương trình sẽ rất đầy đủ và lôi cuốn. Nếu có đủ thì giờ, Ban Phục Vụ sẽ tổ chức xen kẽ những bài nói chuyện, thực tập hay giải thích thêm về Thiền Trà, Càn Khôn Thập Linh hay Dưỡng Sinh Thập Huyền, vv..

Tôi nghe nói là sẽ lạy hàng trăm lạy mỗi ngày, sức khoẻ tôi không được tốt, làm sao tôi có thể theo kịp?

Đây là một mối quan tâm của nhiều người. Ban Phục Vụ đề nghị, các bác cố gắng lạy khi nào mệt các bác lên ghế ngồi hoặc ngồi trên tọa cụ. Theo kinh nghiệm thì hầu hết các bác, dù là lớn tuổi, cũng đều cảm thấy thích và theo được.

Ngoài ra, thầy Hằng Trường sẽ hướng dẫn phương pháp lạy phối hợp với hơi thở, có thể lạy lâu mà không thấy mệt. Tuy nhiên, Ban Phục Vụ sẽ sắp xếp ghế phía sau cho các bác lớn tuổi hay là người không khoẻ lắm có thể ngồi nghỉ ngơi bất cứ lúc nào.

Lễ cầu siêu là gì? Tôi có thể xin cúng cho người thân không?

Trong Lễ Lạy Sám này, Thầy Hằng Trường sẽ hướng dẫn lễ Hồi Hướng và Cầu Siêu cho những người thân đã mất. Ban Phục Vụ sẽ sắp xếp bàn thờ vong. Các bác và các anh chị có thể ghi tên với Ban Phục Vụ để dâng sớ cầu siêu, gửi hình, và phải có mặt trong buổi lễ. Xin chú ý, hình ảnh sẽ được giữ trong digital frame  chiếu lên màn ảnh ở bàn thờ vong. 

Các bác có thể dùng đơn đính kèm để điền sớ xin Cầu An hay Cầu Siêu. Tên người trong sớ sẽ được chiếu lên màn ảnh trong buổi lễ. Các bác cũng có thể gởi kèm hình chụp (bằng digital camera) nếu muốn. Hình cũng sẽ được chiếu cùng với tên. Xin điền đơn Cầu AnCầu Siêu tại đây và email về csseast@gmail.com

Tôi có thể xin Quy Y và Thọ 5 Giới với Thầy Hằng Trường trong dịp này được không?

Thầy Hằng Trường sẽ chủ toạ lễ Qui Y cho đại chúng trong vùng. Nếu các bác và các anh chị có ý định muốn quy y với Thầy, xin liên lạc với Ban Phục Vụ để ghi tên và biết nghi thức chuẩn bị. Ngày giờ và địa điểm sẽ được thông báo sau.

Thầy Hằng Trường giải thích và trả lời câu hỏi về ý nghĩa Lễ Qui Y một cách lý thú như sau (trên YouTube, bài giảng 6 phần):
http://youtube.com/watch?v=R_y9rVowr5o&feature=related
http://www.youtube.com/watch?v=p2IWbipzwVw&feature=related
http://www.youtube.com/watch?v=riZVC8hKfwI&feature=related
http://youtube.com/watch?v=c7eK4kZ3IwU&feature=related
http://youtube.com/watch?v=BoFJpuwly90&feature=related
http://youtube.com/watch?v=UalP46LeJy8&feature=related

Trong bài giảng này, theo Thầy thì Qui Y là một phương pháp tu, Thầy đề cập đến vấn đề ăn chay, làm thiện, thế nào là qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng, vv...

CHUẨN BỊ THAM DỰ PHÁP HỘI

Tôi cần làm gì để tham dự buổi lễ?

Xin đến đúng giờ. Xin vui lòng tắt điện thoại cầm tay, hay để điện thoại rung (vibrate mode). Nếu có thì xin các bác mang theo gối thiền của mình để ngồi cho thoải mái. Ban Phục Vụ sẽ cung cấp nước uống và trái cây.

Tại sao tôi phải ghi tên?

Ban Phục Vụ ước mong buổi lễ thật hoàn mỹ vì đây là một cơ duyên hy hữu. Nên cần chuẩn bị rất nhiều chi tiết như là: số phẩm vật, số kinh sách, số bồ đoàn, số phần ăn, thời gian ăn, vv... Vì thế phỏng định số người tham dự từng ngày rất quan trọng để không gặp khó khăn vào giờ chót. Các bác và các anh chị có thể ghi tên cho bản thân hoặc cho nhiều người bằng cách dùng mạng, hoặc qua điện thư (csseast@gmail.com), hoặc gọi phone cho các chị trong ban Liên Lạc.

Tôi có cần phải mặc áo quần chi đặc biệt không?

Để cho buổi lễ thêm phần long trọng, xin các bác và các anh chị mặc y phục cho trang nghiêm. Tuy nhiên để cho việc lễ lạy dễ dàng, nên mặc y phục rộng rãi và thoải mái. Nếu muốn vào ngồi trong hình vuông Mandala thì xin mặc áo tràng.

Vấn đề ăn trưa làm sao?

Ban Phục Vụ đề nghị tất cả người tham dự nên ăn chay trong thời gian 2 ngày của buổi lễ. Ban Phục Vụ sẽ phục vụ thức ăn chay cho tất cả những người tham dự.

Tôi không thể tham dự cả 2 ngày vì bận công việc, như vậy thì tôi có thể tham dự ít ngày hơn có được không?

Pháp Hội chia ra làm hai phần: Ngày đầu là lễ lạy Quán Âm Sám, ngày sau là Mandala. Các bác và các anh chị có thể tham dự một ngày hay nhiều hơn tuỳ theo khả năng.

ĐÓNG GÓP

Tôi biết chi phí tổ chức buổi lễ rất cao. Như vậy nếu tôi muốn đóng góp trang trải chi phí thì phải làm thế nào?

Dù đa số các thiện nguyện viên CSS từ ngoài tiểu bang đều đã tự nguyện tự túc máy bay và ăn ở, và Ban Phục Vụ đã cố gắng tiếp kiệm tới tối đa, chi phí tổ chức buổi lễ nhiều ngày thật không phải là nhỏ. Chỉ riêng việc mướn hội trường và mua gối ngồi đã hơn $11,000. Ban Phục Vụ rất mong mỏi sự đóng góp và giúp đỡ của tất cả các bác. Xin viết chi phiếu cho

CSS
memo: CSS East

và gởi về CSS
1208 Treasure Oak Ct
Rockville, MD 20852

Mọi đóng góp đều được trừ thuế Liên Bang. Sau mỗi công tác của CSS East được hoàn thành, báo cáo tài chánh của CSS East đều được phổ biến trên mạng.

Ngoài vấn đề tài chánh, tôi có thể giúp gì cho buổi lễ?

Ban Phục Vụ cảm kích tấm lòng của các bác. Ban Phục Vụ xin kêu gọi các bác giúp phổ biến tin tức về buổi lễ này rộng rãi đến người thân, bằng cách gởi tờ thông báo này qua điện thư hay gọi điện thoại. Nếu người thân cần phương tiện chuyên chở hay phải trông con cháu, nhờ các bác tìm cách sắp xếp giúp họ đi được ít nhất là một hai ngày. Đây là cách thiết thực nhất, và có lợi lạc cho người thân nhất.

Ngoài ra, nếu các bác có thể giúp đỡ trong việc tiếp tân, chuyên chở, dọn dẹp, hoa đèn, phẩm vật, thức ăn, vv... và các vấn đề tổ chức khác, xin các bác liên lạc điện thư csseast@gmail.com hay là viết ghi chú khi ghi danh. Xin cám ơn các bác.



image
















[ English ]